20 người làm thay đổi thế giới mà bạn chưa từng nghe nói đến

supervisor_accountAdministrator visibility 941 12/12/2017 10:08:50 PM

Lịch sử có đầy rẫy những con người tạo nên sự biến đổi lớn trên thế giới, có thể theo hướng tiêu cực hoặc tích cực. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, họ thường trượt qua những vết nứt của lịch sử và ít khi được nói đến, hoặc thậm chí tệ hơn, bị lãng quên hoàn toàn.

Dưới đây là danh sách 20 người có ảnh hưởng sâu sắc tới lịch sử thế giới mà có thể bạn chưa bao giờ được nghe nhắc đến.

01.James Harrison:

Năm 1951, James Harrison sống ở Úc lúc đó mới 14 tuổi và phải trải qua một cuộc phẫu thuật lớn để loại bỏ một trong hai lá phổi của mình. Tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, cha cậu bé đã giải thích với cậu rằng trong suốt quá trình phẫu thuật, cậu được hiến tặng 13 đơn vị máu, và tất cả đều đến từ những người xa lạ. Từ lúc ấy, Harrison đã có thời gian để suy nghĩ và nhận ra rằng nếu không có máu hiến tặng, cậu chắc chắn sẽ chết. Vì vậy Harrison đã thề sẽ hiến máu ngay khi mình đủ tuổi.

Bốn năm sau, Harrison bắt đầu thực hiện lời thề của mình, bắt đầu hiến tặng máu cho những người xa lạ. Không lâu sau đó, các bác sĩ nhận thấy một sự khác biệt trong máu của Harrison. Điều đặc biệt về máu của ông là nó có liên quan đến hệ thống nhóm máu Rh.

Hệ thống nhóm máu Rh là một trong 35 hệ thống nhóm máu người được biết đến. Đây là hệ thống nhóm máu quan trọng thứ hai, sau hệ thống nhóm máu ABO. Hệ thống nhóm máu Rh bao gồm 50 loại kháng nguyên nhóm máu, trong đó 5 kháng nguyên D, C, c, E, và e là những kháng nguyên quan trọng nhất.

Vấn đề với nhóm máu Rh là nếu một phụ nữ có máu Rh âm tính và nếu bào thai của cô ấy có máu Rh dương tính, nó sẽ dẫn đến bệnh Rhesus. Bệnh này sẽ làm phát triển các kháng thể tấn công tế bào máu thai nhi vì chúng là ngoại lai. Điều này thường gây ra tổn thương não và sẩy thai. Hàng ngàn trẻ sơ sinh tử vong hàng năm vì điều đó.

Những gì các bác sĩ tìm thấy trong máu Harrison là một kháng thể độc nhất vô nhị. Sử dụng kháng thể này, các bác sĩ phát triển một loại thuốc tiêm gọi là Anti-D ngăn ngừa bệnh Rhesus - một trong những loại thuốc đầu tiên của căn bệnh này. Nhờ vào máu của Harrison, đã có tới hơn 2 triệu trẻ sơ sinh đã được cứu sống.

02.John Bardeen:

John Bardeen sinh ra ở Madison, Wisconsin vào tháng 5 năm 1908. Ngay từ bé, ông đã được mọi người phát hiện ra là một đứa trẻ có trí thông minh thiên bẩm. Ông theo học ngành kỹ sư tại Đại học Wisconsin khi vừa mới 15 tuổi. Sau khi ra trường, ông đã dành ba năm để làm việc như một nhà địa vật lý. Nhưng John Bardeen thực sự không  hứng thú với công việc này nên ông đã đến Princeton và lấy bằng tiến sĩ về vật lý toán học.

Sau ba năm cống hiến ở Harvard, Bardeen đã làm việc tại Bell Telephone Laboratories vào năm 1945. Trong khi làm việc với William Shockley và Walter Brattain, họ đã phát minh ra bóng bán dẫn.

Các bóng bán dẫn có thể thay thế các ống chân không trong các thiết bị điện tử - vốn lớn và cồng kềnh. Vì vậy với bóng bán dẫn, linh kiện và điện tử có thể được thu nhỏ lại rất nhiều lần. Cuối cùng, bóng bán dẫn đã trở nên vô cùng quan trọng trong sự phát triển của khoa học máy tính. Nhờ việc đó, Bardeen, Shockley và Brattain đã được trao giải Nobel Vật lý năm 1956.

Sau khi tạo ra một sáng chế vĩ đại, Bardeen đã trở lại làm việc về những thứ mà ông quan tâm trong suốt cuộc đời của ông - tính siêu dẫn. Làm việc với L.N. Cooper và J.R. Schrieffer, họ đã phát triển lý thuyết siêu dẫn BCS, là nền tảng của mọi công trình nghiên cứu về siêu dẫn xuất hiện sau đó.

Lý thuyết giải thích tại sao điện trở giảm xuống rất thấp khi vật liệu đạt đến nhiệt độ gần với độ không tuyệt đối. Lý thuyết này dẫn tới các phát minh như quét CAT và MRIs. Không chỉ dừng lại ở đó, nó cũng dẫn đến giải Nobel thứ hai của Bardeen về Vật lý vào năm 1972, làm cho ông trở thành một trong bốn người giành được hai giải Nobel và là người duy nhất giành được hai giải Nobel về vật lý.

Mặc dù đã giành được hai giải Nobel, nhưng Bardeen vẫn không thể nổi tiếng trong thế giới khoa học.

03.Olaudah Equiano:

Trong thời hiện đại, chúng ta biết rằng chế độ nô lệ là một tội ác. Trừng trị, đày đọa một người vô tội là một trong những điều xấu nhất ai đó có thể làm. Nó thực sự tàn nhẫn và vô nhân đạo. Tuy nhiên, như bạn đã biết, suốt một thời gian dài trong quá khứ, không phải ai cũng nghĩ như vậy. Một người có công lao to lớn giúp thay đổi những suy nghĩ lệch lạc về chế độ nô lệ là Olaudah Equiano.

Năm Equiano 11 tuổi, ông và chị gái đã bị bắt cóc bởi các thương nhân nô lệ ở Nigeria. Họ bị tách ra sau đó vài ngày, và Equiano được chuyển đến Barbado - nơi ông trải qua giai đoạn khủng khiếp trong cuộc đời - đó là nơi nô lệ bị khóa trong lồng và được vận chuyển qua Đại Tây Dương từ nhà của họ ở Châu Phi đến những nơi khác. Ông cuối cùng đã dừng chân ở Virginia. Thật không may, ông không có cách nào hay bằng chứng nào để xác minh câu chuyện về cuộc đời của mình. Tuy nhiên, sau khi ông đến Virginia, có rất nhiều hồ sơ và bằng chứng để ông có thể thực hiện các yêu cầu bồi thường sau này.

Tại Virginia, ông được bán cho một sĩ quan Hải quân Hoàng gia và đã trải qua tám năm đi biển. Trong thời gian này, ông đã học được cách đọc và viết. Ông cũng được đặt tên Gustavus Vassa. Sau đó một thời gian, ông lại tiếp tục bị bán cho một thương gia làm nghề đánh cá, một người phục vụ và một thợ cắt tóc. Trong thời gian đó, ông cũng đã làm thêm một số việc để kiếm thêm tiền. Như vậy, trong vòng ba năm ông đã làm đủ để mua được tự do cho bản thân mình.

Trong 20 năm tiếp theo, Equiano đã đi khắp thế giới và tham gia rất nhiều các phong trào biểu tình ở Châu Âu. Nhưng quan trọng nhất, năm 1789, ông là người nô lệ đầu tiên xuất bản cuốn tự truyện mang tên “Câu chuyện thú vị về cuộc đời của Olaudah Equiano hay Gustavus Vassa, người châu Phi”. Cuốn sách đã rất phổ biến và được đón nhận, làm cho Equiano trở thành một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng.

Những gì cuốn sách của ông đã làm là đưa ra một quan điểm mới về chế độ nô lệ, bởi vì ông đã từng trực tiếp là một nạn nhân của chế độ đó. Hàng ngàn người đọc cuốn sách của ông hoặc nghe ông nói, khiến Equiano trở thành người có ảnh hưởng mạnh mẽ khi thay đổi luật lệ về chế độ nô lệ.

Và cuối cùng, việc mua bán nô lệ ở Anh cuối cùng đã bị bãi bỏ năm 1807, tròn 10 năm sau cái chết của Equiano.

04.Joseph Lister:

Nhờ y học phát triển, con người đã có nhiều cơ hội sống sót hơn sau những ca phẫu thuật lớn.  Hoặc thực tế hơn, hiện tại, mọi người không cần phải sử dụng hy vọng và cầu nguyện về việc phẫu thuật mà không bị nhiễm khuẩn máu. Và người mà bạn cần cảm ơn chính là bác sĩ phẫu thuật người Anh- Joseph Lister, người được ca ngợi là cha đẻ của những cuộc giải phẫu hiện đại.

Lister đưa ra những phương pháp phổ biến mà cho tới hiện nay vẫn đang được các bác sĩ phẫu thuật sử dụng. Điều này bao gồm các thực hành như bác sĩ phải rửa tay và khử trùng dụng cụ phẫu thuật của họ. Đây dường như là điều cơ bản trong y học ngày nay, nhưng trong quá khứ, ông rõ ràng là bác sĩ phẫu thuật đầu tiên sử dụng phương pháp này. Ông đã đưa ra ý tưởng vào năm 1865, dựa trên lý thuyết của Louis Pasteur rằng vi sinh vật gây nhiễm trùng.

Trong khi Lister được tôn vinh trong cộng đồng y khoa, và thậm chí còn có nước súc miệng được đặt theo tên của ông, thì ông lại không bao giờ đạt được danh vọng và tiếng tăm mà các bác sĩ khác nhận được mặc dù ông đã phát triển kỹ thuật và cứu sống vô số người trong 150 năm qua.

05.Henrietta Lacks:

Loretta Pleasant sinh ra ở Roanoke, Virginia vào tháng 8 năm 1920, và sau đó bà đổi tên thành Henrietta. Mẹ bà chết khi bà lên 4 tuổi và bà được đưa đến sống với ông nội - người sống trong một cabin gỗ đã từng là khu nhà nô ở một đồn điền. Bà phải chia sẻ một căn phòng với người anh họ của mình, David Lacks. 10 năm sau, khi Henrietta được 14 tuổi, bà sinh một đứa con trai - con của David, anh họ của bà. Bốn năm sau, họ có thêm một cô con gái, và rồi họ cưới nhau vào năm 1941.

Vào tháng 1 năm 1951, họ sống ở Maryland. Sau khi Henrietta bị đau và chảy máu ở bụng, bà đã đến bệnh viện duy nhất trong khu vực điều trị người Mỹ gốc Phi - John Hopkins. Đáng buồn thay, bà được chẩn đoán bị ung thư cổ tử cung. Trong nhiều tháng, Henrietta đã được điều trị bằng bức xạ và trong một buổi điều trị, các bác sĩ đã lấy hai mẫu khối u mà bà không hề hay biết. Henrietta qua đời vào ngày 4 tháng 10 năm 1951, ở tuổi 31, nhưng có một phần cơ thể của bà không bao giờ chết.

Trong nhiều thập kỷ, các nhà khoa học tại John Hopkins đã cố gắng phát triển mô, nhưng chúng không thành công lắm; thường các tế bào sẽ chết chỉ sau vài ngày. Tuy nhiên, vì một số lý do đặc biệt mà tế bào của Henrietta bền hơn nhiều. Tiến sĩ George Otto Gey đã có thể cô lập và nhân lên một tế bào đặc biệt của Henrietta, làm cho nó trở thành tế bào bất tử đầu tiên được trồng trong nuôi cấy.

Dòng tế bào này được gọi là HeLa, và nó đã trở nên khá phổ biến trong cộng đồng khoa học, là một phần quan trọng trong nhiều khám phá và đột phá quan trọng. Ví dụ, nó được sử dụng trong việc phát hiện vắc-xin phòng bại liệt. Không những vậy, các tế bào của bà đã được sử dụng trong các sứ mệnh không gian đầu tiên để xem những gì sẽ xảy ra với tế bào người trong không gian. Các dòng tế bào cũng rất quan trọng khi nói đến bản đồ gen, thụ tinh trong ống nghiệm, và nhân bản. Dòng tế bào vẫn còn phổ biến và có hơn 10.000 bằng sáng chế đã sử dụng dòng tế bào HeLa.

Tuy nhiên, gia đình không hề biết tế bào của bà đã được sử dụng cho đến năm 1970. Trong nhiều năm, gia đình của Henrietta đã cố gắng kiểm soát dòng tế bào nhưng gần như họ không thể làm được gì. Sau đó vào năm 2013, trình tự bộ gen của Henrietta đã được sử dụng mà không có sự cho phép của gia đình, đó là một sự vi phạm rất lớn về quyền riêng tư. Sau khi điều này xảy ra, Viện Y tế Quốc gia yêu cầu hai người cháu của Henrietta gia nhập nhóm làm việc truy cập dữ liệu hệ gen HeLa, xem cách tế bào được sử dụng như thế nào. Cuối cùng, gia đình bà đã có được một sự kiểm soát nhất định đối với dòng tế bào.

06.Mohamed Bouazizi:

Mohamed Bouazizi qua đời vào năm 2011, lúc đó ông 26 tuổi và sống ở thành phố nhỏ, nghèo khó của Sidi Bouzid, Tunisia.

Bouazizi là trụ cột của gia đình 8 người, kiếm sống bằng việc bán trái cây và rau trong khu chợ. Gia đình ông nói rằng ước mơ của ông là mua một chiếc xe tải để thay thế cho chiếc xe bán hàng của ông.

Vào ngày 17 tháng 12 năm 2010, một thanh tra nữ của thành phố có tên là Media Hamdi tịch thu xe bán hàng của Bouazizi vì không có giấy phép bán hàng. Trước đó, Bouazizi đã từng bị tịch thu xe, nhưng lần này, mọi thứ càng trở nên tồi tệ hơn khi Bouazizi cố gắng trả tiền phạt và hối lộ Hamdi. Điều này khiến Hamdi trở nên tức giận. Hamdi đã tát ông, nhổ vào ông, và lăng mạ người cha đã chết của ông.

Nhục nhã, Bouazizi đã đi đến trụ sở tỉnh để phàn nàn. Khi ông không thể nói chuyện với với những người có chức trách, ông đi lấy xăng. Khi trở lại trụ sở chính, ông ta tự đổ xăng lên người và tự thiêu. Nhưng Bouazizi đã không chết ngay lập tức mà phải đến hơn 2 tuần sau, ông mới tử vong vào ngày 4 tháng 1 năm 2011.

Vào thời điểm đó, Tunisia nằm dưới sự cai trị của nhà độc tài Zine El Abidine Ben Ali, người đã chiếm đất nước trong một cuộc đảo chính không đổ máu năm 1987. Dưới sự cai trị của ông ta, nạn tham nhũng và thất nghiệp dường như bùng nổ, đặc biệt là những sinh viên tốt nghiệp đại học trong thời điểm đó gần như đều thất nghiệp. Khi Bouazizi tự thiêu, những người dân đã đồn đại rằng ông đã được học đến đại học (mặc dù nó không phải là sự thật), nó làm cho câu chuyện về cái chết của ông trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Cái chết của Bouazizi, bắt nguồn từ sự thất vọng của ông trong việc đối phó với một chính phủ tham nhũng do một nhà độc tài đứng đầu, đã trở thành biểu tượng và khích lệ các cuộc biểu tình ở Tunisia. Do bất ổn dân sự, nhà độc tài Ben Ali đã đi lưu vong vào đầu năm 2011. Vào năm 2014, người dân Tunisia đã có cuộc bầu cử tự do và công bằng đầu tiên kể từ khi giành được độc lập năm 1956.

Những cuộc biểu tình này cũng đã tạo cảm hứng cho người dân ở các nước khác trong khu vực này, tạo ra mùa xuân Ả rập. Mùa xuân Ả Rập đã dẫn đến ba nhà độc tài khác bị lật đổ trong cuộc nội chiến đang diễn ra ở Syria.

07.Rosalind Franklin:

Rosalind Franklin sinh năm 1920 tại Anh. Năm 15 tuổi, cô quyết định sẽ trở thành một nhà khoa học. Khi đủ tuổi, cô được nhận vào Đại học Cambridge và nhận bằng tiến sĩ hóa học ở tuổi 26. Franklin bắt đầu làm việc với một kỹ thuật gọi là nhiễu xạ tia X, sử dụng tia X để tạo ra các hình ảnh các chất rắn kết tinh. Điều này cho phép cô nhìn mọi thứ ở mức độ phân tử.

Năm 1950, Franklin làm việc tại trường King's College ở London. Công việc của bà là sử dụng nhiễu xạ tia X để nghiên cứu các loại DNA. Trong suốt thời gian ở đó, bà đã liên tục làm các nghiên cứu để cung cấp câu trả lời về cấu trúc DNA như thế nào, nhưng bà không bao giờ có cơ hội để tìm ra vì một đồng nghiệp tên là Maurice Wilkins đã gian lận và lừa dối bà.

Mặt khác, Franklin  không biết ai đang làm việc về ADN, vì vậy bà đã chia sẻ thông tin về công việc của bà với Wilkins. Có thể nói, đây là một sai lầm lớn nhất trong cuộc đời của bà. Khi Franklin bắt đầu làm việc tại trường King's College, Wilkins đang đi nghỉ mát. Khi trở lại, ông ta tuyên bố không biết vai trò của Franklin trong phòng thí nghiệm là gì và chỉ nói với mọi người rằng: bởi vì bà là một phụ nữ, bà đã ở đó để giúp ông ta làm một vài việc phụ trong công việc này. Ngay sau đó Franklin và Wilkins đã tranh cãi rất nhiều, nhưng bà hoàn toàn không có bằng chứng để chứng minh cho những gì bà đã làm. Tất cả những sự việc này đã làm thay đổi hoàn toàn lịch sử.

Vào tháng 5 năm 1952, Franklin và nghiên cứu sinh - Raymond Gosling, chụp một bức ảnh nhiễu xạ tia X có tên Photograph 51 - một mảnh DNA. Wilkins đã đưa bức ảnh này cho nhà sinh học người Mỹ James Watson và khi ông ta nhìn thấy nó, ông ta đã phát hiện ra nó có điều đặc biệt. Watson và nhà sinh vật học phân tử Francis Crick đã sử dụng Photograph 51 để viết một bài báo giải thích rằng DNA có cấu trúc xoắn kép. Bài báo đã được xuất bản trong tạp chí Nature vào tháng 4 năm 1953 và trong đó, một lần nữa, sự đóng góp của Franklin lại không được công nhận.

Tại thời điểm này, mối quan hệ giữa Franklin và những người đứng đầu của trường King's College đã trở nên căng thẳng và trưởng bộ phận của bà đã giúp bà rời khỏi trường với điều kiện là bà không bao giờ làm việc về DNA nữa. Trong công việc mới của mình tại Trường Đại Học Birkbeck, bà đã viết 17 bài báo và nhóm của bà tạo ra nền tảng cho khoa học về cấu trúc học. Năm 1956, bà bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng và chết hai năm sau đó vào ngày 16 tháng 4 năm 1958, ở tuổi 37.

4 năm sau, vào năm 1962, Watson, Crick và không thể tin được, cả Maurice Wilkins đều được nhận giải Nobel về y tế. Tuy nhiên, Franklin chưa bao giờ được chính thức công nhận về những đóng góp của mình cho một trong những khám phá lớn nhất của khoa học hiện đại.

08.Norman Borlaug:

Norman Borlaug sinh ra ở Cresco, Iowa vào tháng 3 năm 1914. Khi ông 27 tuổi, ông nhận bằng tiến sĩ về bảo vệ thực vật. Trong những năm 1930 và 1940, ông đã đi làm việc ở Mexico và giúp nông dân ở đó bằng cách cải tiến kỹ thuật và phương pháp của họ. Ông cũng phát triển một loại lúa mì đặc biệt cho họ, được gọi là lúa mì lùn, một giống rất phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu ở Mexico. Đến năm 1956, nhờ công trình của Borlaug, Mexico đã trở nên tự chủ với việc trồng và chăm sóc lúa mỳ.

Khoảng thời gian đó, nhiều quốc gia khác trên thế giới đang phải trải qua những vụ bùng nổ dân số và chính phủ của họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc sản xuất đủ lương thực cho tất cả mọi người. Hai quốc gia bị thiếu lương thực do sự gia tăng dân số là Ấn Độ và Pakistan. Trong suốt những năm 1960, Borlaug đưa kỹ thuật của mình và lùn lúa mì đến Ấn Độ và Pakistan, cải thiện rất nhiều hệ thống nông nghiệp của họ.

Đến năm 1970, Borlaug được trao giải Nobel Hoà bình. Tuy nhiên, giải thưởng này lại không làm cho ông trở nên nổi tiếng. Thay vào đó, ông tiếp tục làm việc ở các nước đang phát triển, cố gắng cải thiện hệ thống nông nghiệp của họ, trong suốt năm thập kỷ. Cũng nhờ vào năm mươi năm làm việc của Borlaug, hàng tỷ người đã được cứu sống khỏi nạn đói.

Borlaug - người được coi là một nhân vật trung tâm trong cuộc Cách mạng Xanh, đã qua đời vào tháng 9 năm 2009 ở tuổi 95.

09.Dona Marina:

Dona Marina được sinh ra với cái tên Malintzin vào khoảng năm 1501 trong một gia đình Aztec quý phái. Cha của bà, vốn là một người lãnh đạo, đã chết khi bà còn rất nhỏ. Mẹ bà kết hôn với một người đàn ông khác và có thêm một đứa con trai. Rất có thể, theo sự yêu cầu của cha dượng, muốn con trai của mình làm chủ nên Malintzin đã bị bán làm nô lệ.

Bà đã bị gửi đến thành phố Tabasco. Tại thời điểm đó, bà có thể nói được ngôn ngữ của cả người Aztec, được gọi là Nahuatl, và tiếng Mayans. Năm 1519, một người Tây Ban Nha tên là Conquistador Hernán Cortés đã đến thành phố Tabasco, và ông đã được trao quyền đặt tên cho 20 nữ nô lệ. Một trong những nô lệ đó là Malintzin, được ông đặt tên là Dona Marina.

Không lâu sau đó, Cortés biết được rằng Marina có thể nói được cả tiếng Mayan và Nahuatl. Điều này rất quan trọng vì Cortés có một linh mục là nô lệ có thể nói cả tiếng Mayan và tiếng Tây Ban Nha. Sử dụng hai phiên dịch viên, Cortés đã có thể trao đổi các thông điệp hòa bình với người đứng đầu bộ tộc Aztecs, Montezuma..

Thật bất ngờ, nhờ khả năng ngôn ngữ vượt trội, Marina đã nhanh chóng học được tiếng Tây Ban Nha và Cortés sử dụng bà như một thông dịch viên khi lực lượng của ông bắt đầu tấn công các bộ tộc của những người ngoại lai, nhưng sau đó Cortés đã thay đổi ý định. Marina đã được đưa vào để đàm phán hòa bình với những người ngoại lai vì Cortés muốn chiếm bộ tộc Aztecs. Một phần của cuộc đàm phán là Marina đã nhờ những bộ tộc của người ngoại lai giúp đỡ trong cuộc chiến sắp tới của Tây Ban Nha với bộ tộc Aztecs. Bộ tộc của người ngoại lai đã đồng ý giúp đỡ không chỉ để cứu các thành phố của họ khỏi tay người Tây Ban Nha, mà còn bởi vì người Aztec đã sử dụng thành phố của họ làm trang trại. Họ ghét điều đó, nhưng họ không đủ mạnh để làm bất cứ điều gì chống lại bộ tộc người Aztecs.

Người Aztec đã rất ngạc nhiên vì họ nghĩ rằng những người Tây Ban Nha đang đến trong hòa bình. Trên thực tế, họ hoan nghênh Cortés và những người lính của ông trong thành phố của họ. Kể từ khi người Tây Ban Nha lập liên minh với những người ngoại lai, người Aztec đã bại trận chỉ trong hai năm.

Bên cạnh việc giúp đỡ Cortés hạ gục đế chế Aztec, Marina cũng là người tình của Cortés. Bà mang thai và sinh ra một con trai tên là Martín Cortés, khiến Martín trở thành người Mestizo đầu tiên, là người có cả máu Châu Âu và Amerindian.

Trong khi Marina có thể được coi là kẻ phản bội bởi vì bà đã giúp người nước ngoài chiếm lấy quê hương của bà, thì có những người trong thời đại của bà đã vô cùng tôn trọng bà. Bà được cho là đã cứu sống hàng ngàn người bằng cách thương lượng hòa bình thay vì để cho Cortés tuyên bố chiến tranh. Và tất nhiên, việc chinh phục không dừng lại ở đó mà nó còn dẫn tới việc thuộc địa hóa Nam Mỹ.

10.Gavrilo Princip:

Như đã nói từ đầu, không phải ai trong danh sách này cũng đều cứu sống nhiều người. Không những vậy, họ còn gây ra cái chết cho hàng triệu người vô tội. Mặc dù đã có nhiều yếu tố góp phần dẫn tới sự khởi đầu của Thế chiến thứ nhất, nhưng việc ám sát Hoàng tử Franz Ferdinand của Áo được xem là sự kiện châm ngòi cho tất cả.

Ngày 28 tháng 6 năm 1914, Ferdinand, người thừa kế đế chế Austro-Hungarian (đế chế Áo-Hung), đã đi thăm nước Bosnia mới thành lập. Một nhóm người Serbs sinh ở Bosnia đã không vui vì họ đang dưới sự cai trị của Áo, vì vậy họ quyết định ám sát người thừa kế ngai vàng này.

Câu chuyện nổi tiếng nhất là âm mưu ám sát hoàng tử Áo bằng một quả lựu đạn được Nedeljko Cabrinovic ném tại lều gạch. Tuy nhiên, đó là một quả lựu đạn cổ và có gắn cầu chì 10 giây trên đó. Vì vậy, nó đã gây ra sự hỗn loạn trong dân chúng, khiến Ferdinand có đủ thời gian để chạy trốn trước khi quả lựu đạn phát nổ.

Ngay sau lần ám sát hụt, Cabrinovic đã nuốt một viên thuốc xianua và nhảy xuống sông để tự tử. Tuy nhiên, thuốc đã hết hạn nên nó không thể giết chết anh ta, nó chỉ khiến anh ta bị bệnh. Ngoài ra, con sông chỉ sâu 4 inch, vì vậy đương nhiên anh ta đã bị bắt. Có thể nói, đây là một chuỗi cảnh vui nhộn mà tất cả mọi người đều muốn quay phim lại.

Dù sao, một trong những đồng minh của Cabrinovic, Gavrilo Princip - 20 tuổi, đã theo dõi vụ ám sát thất bại và quyết định rời đi. Anh ta đi qua một vài con đường đến một khu bán lẻ, nơi anh ta mua một cái bánh sandwich. Trong khi đó, Ferdinand và vợ - Sophie, đã kịp thời trốn khỏi thị trấn và đã quyết định đến bệnh viện để thăm những người bị thương do lựu đạn. Tuy nhiên, trên đường đi, họ gặp trục trặc và họ đã dừng chân trên một con đường - cũng chính là nơi Princip ăn bánh sandwich. Nhìn thấy cơ hội của mình, Princip kéo ra một khẩu súng lục và bắn hai viên đạn; người đầu tiên lĩnh đạn là Sophie và người tiếp theo chính là Ferdinand. Cả hai đều bị giết trong vụ bắn súng và Princip bị bắt.

Đó chắc chắn là một câu chuyện thú vị mà một loạt các sự trùng hợp đã gây ra cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, nhưng tính xác thực của nó là rất đáng nghi ngờ. Trước hết, bánh sandwich không thực sự phổ biến ở Bosnia vào thời điểm đó. Thứ hai, trước khi bị bắt, Princip vẫn đứng bên ngoài nhà hàng khi ông ta giết Ferdinand, và đó là một nhà hàng trên con đường ban đầu diễn ra vụ ám sát hụt hài hước của Cabrinovic.

Vào tháng 10 năm 1914, Princip bị kết án 20 năm tù giam, nhưng qua đời ngày 28 tháng 4 năm 1918. Hành động được cho là của ông ta đã châm ngòi cho chiến tranh thế giới thứ nhất với hậu quả vô cùng nặng nề : 80 triệu người chết, và Thế chiến I trực tiếp dẫn tới các sự kiện lịch sử to lớn như sự nổi dậy của Hitler, Cách mạng Nga, và cuối cùng là Thế chiến II.

11.Herschel Grynszpan:

Một trong những hoạt động chính của Đức Quốc xã là lấy người Do Thái để làm vật tế thần và bức hại dân Do Thái. Tất nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, họ có kế hoạch lớn hơn cho người Do Thái; đáng chú ý là họ muốn trục xuất những người này một cách có hệ thống. Nhưng họ cần một lý do để chuyển sang giai đoạn tiếp theo và lý do đó sẽ đến vào năm 1938.

Herschel Grynszpan 17 tuổi là một người Do Thái sinh ra ở Đức và sau sự ra đời của đảng Quốc xã, ông chuyển đến Pháp - nơi ông sống lưu vong. Ông không thể tìm được việc làm bởi vì ông không phải là công dân hợp pháp và Herschel Grynszpan đã rất lo lắng về việc nếu ông có việc làm thì sẽ thu hút sự chú ý và ông sẽ bị đưa trở lại Đức.

Vào ngày 7 tháng 11 năm 1938, ông mua một khẩu súng và một hộp đạn rồi đi đến Đại sứ quán Đức. Ông đi đến gần Nhà ngoại giao Đức Quốc xã là Ernst vom Rath và bắn ông ta năm lần. Vom Rath qua đời hai ngày sau đó.

Vào ngày Ernst vom Rath qua đời, Joseph Goebbels đã phát biểu và sử dụng vụ ám sát để chứng minh người Do Thái nguy hiểm như thế nào. Vào đêm diễn thuyết, trên khắp nước Đức, 200 Hội đường Do Thái giáo đã bị phá hủy, các doanh nghiệp Do Thái bị lục soát, 100 người Do Thái bị giết, và hơn 30.000 người đàn ông đã bị bắt. Lý do họ bị bắt là vì họ là người Do Thái, và sau đó họ bị đưa vào trại tập trung. Các nhà sử học công nhận đêm hôm đó là sự khởi đầu của vụ thảm sát Holocaust. Nó đánh dấu bước ngoặt từ cuộc bức hại tới bạo lực, giết người, và các trại tập trung.

Đối với Grynszpan, ông đã bị bắt và giam giữ bởi người Pháp. Sau sự sụp đổ của Pháp vào tháng 6 năm 1940, Grynszpan đã được gửi đến Đức để ông ta có thể bị Gestapo thẩm vấn. Sau đó, không ai chắc chắn những gì đã xảy ra với ông ta, và trong nhiều thập kỷ người ta chỉ giả định ông ta đã chết trong một trại tập trung. Nhưng sau đó vào năm 2016, một sử gia tìm thấy một bức tranh trong kho lưu trữ Bảo tàng Do thái của Vienna và trong bức tranh, có một người trông giống Grynszpan. Bức ảnh được chụp tại một trại của những người phải di tản vào năm 1946. Nếu người trong bức tranh thực sự là Grynszpan, điều đó có nghĩa là anh ta đã sống sót sau chiến tranh. Tuy nhiên, điều đó chưa bao giờ được xác nhận và số phận thực sự của ông thì không một ai có thể biết.

12.Abraham Flexner:

Người có ảnh hưởng nhất trong việc đào tạo các bác sĩ mới không phải lúc nào cũng là bác sĩ. Abraham Flexner là một nhà giáo dục, là người sáng lập và giám đốc một trường dự bị đại học ở Louisville, Kentucky.

Năm 1908, ông xuất bản cuốn The American College: A Criticism đưa ra những đề nghị về cách mà các trường đại học Mỹ nên giảng dạy. Rất nhiều người đã bỏ qua nó, và không thể hiểu nổi Flexner đang nói gì. Nhưng nó đã thu hút được sự chú ý của Quỹ Carnegie, và tổ chức này đã ủy nhiệm cho Flexner nghiên cứu 155 trường đại học y khoa ở Hoa Kỳ và Canada.

Nghiên cứu của ông đã dẫn đến Báo cáo Flexner – một báo cáo có ảnh hưởng lớn đến cách điều hành các trường y khoa. Một trong những thay đổi lớn mà ông đề xuất là ngừng nhiều bài giảng lý thuyết cho sinh viên y khoa và giúp họ có thêm kinh nghiệm thực tiễn. Ông cũng khuyến cáo nên đưa ra các tiêu chuẩn cho việc nhận học bổng và nên loại bỏ tất cả các trường học được lập ra vì lợi nhuận. Những điều đó đã tạo ra nền tảng của trường y học hiện đại.

Ông cũng nghĩ rằng rất nhiều trường học chưa thể đạt được tiêu chuẩn, vì vậy ông đề nghị hai phần ba trong số đó nên bị đóng cửa. Trong vòng 25 năm, số trường học giảm từ 155 xuống còn 66.

13.Malcolm McLean:

Malcolm McLean sinh ra trong một gia đình thuần nông ở Bắc Carolina vào năm 1914. Trong thời kỳ đại suy thoái, ông bắt đầu gây dựng một công ty chuyên chở xe tải nhỏ.

Trong những năm 1950,  công ty ông đã có hơn 1.700 xe tải. McLean luôn luôn thấy lãng phí thời gian và công sức nếu một chiếc tàu đi vào cảng, hàng hóa bị dỡ ra và sau đó chất lên xe tải. McLean nghĩ: sẽ thật tuyệt vời nếu bạn chỉ cần di chuyển một container hàng từ thuyền đến xe tải?

Chính vì lý do đó, McLean đã quyết định theo đuổi ý tưởng này vào những năm 1950. Ông đã bán cổ phần trong ngành kinh doanh xe tải với giá 6 triệu USD, và sau đó đã nhận được một khoản vay từ ngân hàng với giá 42 triệu USD (nhưng có nhiều người đã nói là con số này lên đến 500 triệu USD). Ông đã mua hai chiếc tàu chở dầu cũ, sau đó dành phần còn lại để trang bị cho tàu chở dầu và lắp đặt và sửa chữa các cơ sở tại Port Newark, New Jersey. Ý tưởng của ông đã được thực hiện vào tháng 4 năm 1956, với kết quả là chiếc Ideal X dài 30 feet và đã để được 58 thùng hàng.

Các container vận chuyển của McLean đã được sử dụng vì nó hiệu quả hơn, tiết kiệm tiền, và hàng hóa được đóng chặt trong container khiến công nhân vận chuyển không thể ăn cắp hàng. Ngay sau đó, các bến tàu khác đã được trang bị thêm các container vận chuyển và 40 năm sau đó chúng đã trở thành tiêu chuẩn. Năm 1996, khoảng 90% các hoạt động buôn bán trên thế giới được vận chuyển trong các container.

McLean đã bán cổ phần của mình trong công ty vận chuyển vào năm 1969 với giá 160 triệu USD. Sau đó, ông đã đắm mình trong những thứ khác nhau, nhưng đã dành phần lớn thời gian của mình cho một trang trại lợn, nơi ông làm việc cho đến khi ông qua đời vào năm 2001.

Mặc dù phát minh này là một cuộc cách mạng hóa thế giới thương mại và là một đóng góp lớn cho toàn cầu nhưng đến ngày nay, McLean vẫn không được nhiều người biết đến.

14.Daniel Kahneman và Amos Tversky:

(Trong ảnh: Amos Tversky áo xanh bên trái và Daniel Kahneman áo vét đen bên phải)

Daniel Kahneman và Amos Tversky là một nhóm các nhà tâm lý học. Như Michael Lewis giải thích trong cuốn sách The Undoing Project, Kahneman và Tversky là những người bạn thân thiết và đã làm việc rất tốt với nhau như thể họ dùng chung một siêu não.

Họ đã gặp nhau trong những năm 1960 tại Đại học Hebrew ở Jerusalem và việc hợp tác giữa họ có ảnh hưởng đáng kể từ năm 1971 đến năm 1979. Công việc đó tập trung vào hai chủ đề rất riêng biệt – phán đoán và ra quyết định. Phán đoán là đo lường xác suất và mức độ, chẳng hạn như "Có bao nhiều phần trăm khả năng là tôi sẽ nhận được công việc này và liệu tôi có đủ khả năng để làm việc đó?" Còn quyết định là chúng ta chọn như thế nào, và việc chọn lựa đó mất bao nhiêu thời gian. Ví dụ: "Tôi có chấp nhận làm công việc này không?"

Những gì Kahneman và Tversky phát hiện ra là người ta không nghĩ như các nhà thống kê. Thay vào đó, người ta phản ứng theo một cách gọi là heuristic - là các lối tắt tinh thần mà bộ não con người đã phát triển khiến chúng ta chỉ tập trung vào một khía cạnh của các vấn đề phức tạp. Đầu tiên họ xác định được ba loại lối tắt tinh thần, nhưng không chỉ dừng lại ở đó, những lối tắt tinh thần khác đã được xác định trong những năm tiếp theo.

Lối tắt đầu tiên là sự sẵn có. Một ví dụ: điều gì phổ biến hơn ở Hoa Kỳ - tự tử bằng súng hoặc giết người bằng súng? Mặc dù tự sát là phổ biến hơn, nhưng nhiều người nghĩ rằng dùng súng giết người xảy ra thường xuyên hơn. Đó là bởi vì khi mọi người suy nghĩ về cái chết do súng gây ra, họ thường nhớ ngay đến dùng súng giết người vì chúng được báo cáo trong tin tức khá thường xuyên, và tự tử bằng súng ít khi được đề cập.

Lối tắt thứ hai gọi là sự đại diện. Nó hoạt động như thế này: Jeff có hình xăm, chơi đàn guitar, thanh thiếu niên rất lắng nghe anh ta, và anh ta dành nhiều buổi tối của mình trong quán bar. Bạn sẽ cho rằng Jeff là một nhạc sĩ chuyên nghiệp hay một giáo viên? Dựa trên mô tả, nhiều người sẽ chọn nhạc sĩ, nhưng về mặt thống kê, có nhiều khả năng là anh ta là một giáo viên vì trong xã hội có một lượng giáo viên đông đảo hơn nhiều so với các nhạc sĩ chuyên nghiệp.

Lối tắt tinh thần cuối cùng được đề xuất bởi Kahneman và Tversky là sự giữ chặt và điều chỉnh. Ví dụ: giả sử ai đó hỏi bạn, liệu dân số của Nigeria trên hay dưới 15 triệu người? Bạn trả lời bất cứ điều gì bạn nghĩ. Sau đó họ hỏi "Bạn nghĩ gì về số lượng công dân cụ thể ở Nigeria?" Bạn có thể nghĩ ngay tới con số khoảng 15 triệu người.

Kahneman đã được trao giải Nobel về Khoa học Kinh tế vào năm 2002, một giải thưởng mà ông chắc chắn sẽ chia sẻ với Tversky, nhưng đáng buồn là Tversky đã qua đời vào tháng 6 năm 1996 do căn bệnh ung thư.

15.Dietrich Eckart:

Có lẽ một trong những đặc điểm nhân cách mạnh mẽ nhất của Adolf Hitler chính là sức thu hút của ông. Nó được cho là đã đưa ông đi lên vị trí quyền lực của mình, trực tiếp dẫn đến Thế chiến II và Holocaust.

Điều thú vị là Hitler thực sự là một người không có khả năng lãnh đạo bởi vì ông là một người vô cùng kỳ quặc. Ông ta là một người có nhiều thành kiến và đầy tham vọng, không có nhiều bạn bè, và ông ta có vấn đề với việc giữ các mối quan hệ. Hơn nữa, khả năng tranh luận của Hitler vô cùng tồi.

Năm 1919, Hitler khi đó 30 tuổi, ông đã gặp Dietrich Eckart, một trong những người sáng lập ra Đảng Công nhân Đức. Eckart là một nhà phê bình phản đối mạnh mẽ hiệp ước Versailles và ông đổ lỗi cho sự mất mát và thất bại của Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất đến từ người Do Thái và các nhà dân chủ xã hội.

Nhiều tháng trước khi Eckart gặp Hitler, ông đã viết một bài thơ trong đó nói rằng ông sẽ gặp một người mà ông gọi là "Người vĩ đại", "Người vô danh" và "Người chúng ta có thể cảm thấy nhưng không thể nhìn thấy".

Khi Hitler đi đến một trong những buổi phát biểu của Eckart và cả hai gặp nhau, Eckart cảm thấy như ông đã gặp "Đấng Messiah". Ông đã giúp Hitler tìm thấy quyền uy trong từng câu nói và dạy Hitler sử dụng sức thu hút của mình. Eckart cũng giới thiệu Hitler với các nhóm người có ảnh hưởng và Hitler đã có thể gây quỹ cho Đảng Công nhân Đức. Năm 1920, Đảng Công nhân Đức đổi tên thành Đảng Lao động Xã hội Chủ nghĩa Quốc gia Đức, và được biết đến nhiều hơn với cái tên là Đảng Quốc xã.

Vào ngày 9 tháng 11 năm 1923, Eckart đã tham gia vào cuộc đảo chính thất bại được gọi là Beer Hall Putsch. Ông ta đã bị bắt, nhưng đã được thả ra sau một thời gian ngắn. Eckart qua đời vài tuần sau, vào ngày 26 tháng 12 năm 1923.

Sau khi Eckart qua đời, Hitler đã quyết định dành một số trang nhất định trong cuốn sách Mein Kempf do chính Hitler viết cho người đàn ông mà ông gọi là "một người bạn như một người cha" và ông cũng đã đặt tên của Eckart cho một sân vận động được sử dụng trong Olympic mùa hè 1936.

16.Hedy Lamarr:

Nếu bạn là một người hâm mộ điện ảnh cổ điển, bạn có thể biết Hedy Lamarr là ai, bởi vì trong những năm 1930 và 1940, bà đã đóng vai chính trong một số bộ phim nổi tiếng như Boom Town với Clark Gable và Samson, Delilah với Victor Mature. Một số nguồn tin cho biết rằng bà là lựa chọn đầu tiên của nhà sản xuất để đóng Ilsa Lund trong phim Casablanca, nhưng cuối cùng người được chọn lại là Ingrid Bergman.

Bà gần như là người nổi tiếng nhất trong danh sách nhưng Lamarr cũng không thể mang lại sự thay đổi lớn cho thế giới nếu chỉ đóng vai chính trong một số bộ phim cũ mà chính sở thích của bà đã làm thay đổi thế giới. Trong thời gian rảnh rỗi, Lamarr thường thích sáng tạo.

Năm 1942, Lamarr đang ở đỉnh cao của sự nghiệp diễn xuất của mình, nhưng bà lại muốn giúp đỡ những người trong chiến tranh. Cụ thể, bà muốn giúp các đồng minh đưa ra một hệ thống thông tin liên lạc mà không thể bị chặn bởi kẻ thù. Vì vậy, bà và bạn của bà, nhà soạn nhạc George Antheil, đã chế tạo và sau đó được cấp bằng sáng chế về một cái gì đó mà họ gọi là "Hệ thống Thông tin bí mật". Đó là một hệ thống có thể thay đổi tần số vô tuyến theo một phương pháp lập trình. Nếu ai đó đang lắng nghe, họ sẽ chỉ nghe một đoạn ngắn trước khi nó thay đổi sang một tần số khác.

Cuối cùng, quân đội đã không sử dụng hệ thống. Nhưng hàng thập kỷ sau, sáng chế của Lamarr và Antheil trở nên thực sự quan trọng vì đó là một cách rẻ tiền và hiệu quả để tạo ra an ninh trong các công nghệ mới nổi lên như truyền thông quân sự, điện thoại di động và WiFi.

Đối với Lamarr, sự nghiệp điện ảnh của bà đã xuống dốc vào những năm 1950 và bộ phim cuối cùng của bà đã được phát hành vào năm 1958. Sau đó, bà đã sống như một người bình thường trong suốt phần đời còn lại và qua đời vào ngày 19 tháng 1 năm 2000. Khi đó bà đã 86 tuổi.

17.Dennis Ritchie:

Dennis Ritchie sinh ra ở Bronx vào tháng 9 năm 1941.  Dennis Ritchie tốt nghiệp Đại học Harvard về vật lý và toán học ứng dụng và sau đó ông đi làm việc tại Bell Lab ở Murray Hill, New Jersey.

Vào giữa những năm 1960, Ritchie làm việc cho một dự án mang tên Multics (Dịch vụ Thông tin và ghép kênh) - một liên doanh giữa Bell Lab, General Electric và MIT. Bell Lab đã rút khỏi dự án vào năm 1969, và Ritchie, cùng với đối tác của ông, Ken Thompson, nghĩ rằng thật là tồi tệ khi họ phải rời khỏi dự án đó bởi vì họ nghĩ nó sẽ mang lại rất nhiều điều tốt đẹp.

Vấn đề với dự án Multics chính là hệ điều hành quá phức tạp. Vì vậy, Ritchie và Thompson đã quyết định tạo ra một hệ điều hành nhỏ hơn và đơn giản hơn mà họ gọi là Unix. Ritchie phát triển ngôn ngữ lập trình C, dựa trên một ngôn ngữ lập trình chưa từng được sử dụng, được phát minh ra tại các trường đại học Cambridge và London vào năm 1964 gọi là CPL (Ngôn ngữ Lập trình kết hợp).

Ritchie và Thompson phân phối Unix miễn phí cho các trường đại học, những người đang đào tạo các nhà khoa học máy tính tương lai về hệ thống. Một người siêng năng và say mê Unix chính là Steve Jobs. Ông đã sử dụng nó khi ông bắt đầu làm việc tại Apple và khi ông bị sa thải vào năm 1985, ông đã sử dụng nó để phát triển trạm máy NeXT của mình. Khi Steve Jobs được Apple thuê lại, ông mang Unix trở về cùng với mình.

Đối với ngôn ngữ lập trình C, nó chủ yếu là nền tảng của Internet và tính toán hiện đại. Gần như mọi thứ trên Internet và tất cả các thiết bị thông minh của bạn đều sử dụng ngôn ngữ lập trình C hoặc điều gì đó phát sinh từ nó. Các ngôn ngữ khác, như Python và Ruby on the Rails, được thực hiện trong C.

Ritchie qua đời vào ngày 12 tháng 10 năm 2011, chính xác một tuần sau khi Steve Jobs qua đời và tin tức về cái chết của Jobs đã làm lu mờ đi cái chết của Ritchie. Khi Richie qua đời, tạp chí Wired gọi ông là "Bờ vai vững chắc nâng đỡ Steve Jobs".

18.Percy Julian:

Percy Julian sinh năm 1899 tại Montgomery, Alabama, và là cháu nội của các nô lệ. Vì Julian là người da đen, nên ông không được phép được vào học tại trường trung học. Thay vào đó, ông đã nộp đơn vào Đại học DePauw ở Greencastle, Indiana, và đã được chấp nhận nhưng phải học lớp buổi tối để bắt kịp với chương trình.

Tuy nhiên, ông là người tốt nghiệp đầu tiên trong lớp và sau đó ông lấy bằng thạc sĩ từ Harvard về hóa học, nhưng họ không cho phép ông lấy bằng tiến sĩ. Để làm được điều đó, ông rời đất nước và lấy nó từ Đại học Vienna ở Áo.

Năm 1935, trong khi làm việc tại DePauw, ông đã có một bước đột phá ấn tượng. Ông và người yêu của ông đã trở thành những người đầu tiên tổng hợp physostigmine, được sử dụng để điều trị bệnh glaucoma. Trong khi nhiều người khác sẽ được cung cấp một vị trí giảng dạy cho một bước đột phá như vậy, nhưng vì Julian là người da đen nên ông không bao giờ được công nhận như một giảng viên toàn thời gian. Chính vì lý do đó, ông đã rời khỏi học viện và nhận một công việc tại Công ty Glidden ở Chicago, làm việc với đậu nành.

Trong khi làm việc ở đó, ông đã thực hiện một số khám phá quan trọng. Ông là người đầu tiên tổng hợp progesterone, giúp một số phụ nữ tránh sẩy thai và cũng được sử dụng để điều trị bệnh ung thư. Ông cũng tổng hợp testosterone mà vẫn còn được sử dụng trong steroids ngày nay. Cuối cùng, ông cũng khám phá ra làm thế nào để tạo ra một loại cortisone tổng hợp rẻ tiền, được sử dụng để điều trị viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis).

Tổng cộng, Julian đã có hơn 100 bằng sáng chế hóa học, nhưng công việc của ông có ảnh hưởng nhiều hơn các sản phẩm mà ông tạo ra. Bằng cách làm cho các sản phẩm y tế quan trọng được sản xuất nhiều hơn và ít tốn kém hơn, Julian đã đẩy nhanh việc nghiên cứu và tăng lượng kiến thức về chúng. Kỹ thuật và sản phẩm của ông đã dẫn trực tiếp đến sự phát triển của hóa chất kiểm soát sinh sản và thuốc để ức chế hệ thống miễn dịch, rất quan trọng trong việc thực hiện cấy ghép nội tạng.

Mặc dù có những thành tựu vĩ đại cho nhân loại, nhưng Julian phải đối mặt với một cuộc đời khó khăn vì chính màu da của mình. Vì vậy, ông đã trở thành một nhà hoạt động nhân quyền tích cực.

Julian qua đời vào năm 1975, và ngay trước khi ông qua đời, ông nói, "Tôi đã có một mục đích trong cuộc đời, đó chính là đóng vai trò làm cho cuộc sống dễ dàng hơn cho các thế hệ sau tôi".

19.Edward Bernays:

Đừng hiểu lầm, hình ảnh phía trên không phải là chân dung của Edward Bernays đâu, đó chỉ là một trong những “kiệt tác” của ông ấy thôi! Ảnh Edward Bernays ở dưới này cơ.

Bernays sinh ra ở Vienna, Áo vào năm 1891. Gia đình ông chuyển đến New York City khi ông mới chỉ có 1 tuổi. Khi còn là một cậu bé, ông thường đi đến vùng Alps trong mùa hè để dành thời gian với chú của mình, Sigmund Freud.

Khi trưởng thành, Bernays mở một văn phòng quan hệ công chúng, và chú của ông đã gửi cho ông một bản sao của tài liệu “Giới thiệu chung về phân tâm học”. Sau khi đọc nó, Bernays nhận ra rằng ông có thể sử dụng phân tâm học để thuyết phục mọi người mua và hành động theo ý ông mà họ thậm chí còn không biết rằng ông đang làm ảnh hưởng đến họ. Để kiểm tra giả thuyết của mình, ông đã cố gắng để phụ nữ hút thuốc. Năm 1929, mọi phụ nữ đều tin rằng hút thuốc lá khiến họ trông có vẻ quyến rũ hơn.

Bernays biết nếu phụ nữ có thể hút thuốc lá, khách hàng của ông, thuốc lá Lucky Strike sẽ kiếm được rất nhiều tiền. Vì vậy Bernays đã trao đổi với Tiến sĩ A.A. Brill, nhà tâm lý học hàng đầu ở New York. Brill nói rằng thuốc lá là biểu tượng của sức mạnh nam giới.

Bernays đã đưa ra một chiến dịch mà ông gọi là thuốc lá Lucky Strike "Chạm tới tự do". Sau đó ông  nhận được một danh sách các cô gái của tạp chí Vogue và nói với họ rằng nếu họ hút thuốc ở nơi công cộng, như Fifth Avenue, thì họ sẽ giúp đỡ cho quyền của phụ nữ. Họ được yêu cầu tập hợp để hút thuốc tại Lễ Phục Sinh vào ngày 1 tháng 4 năm 1929. Chẳng ai biết điều này có giúp ích gì cho quyền phụ nữ hay không, nhưng nó đã giúp Bernays và ngành công nghiệp thuốc lá kiếm được rất nhiều tiền.

Công ty Bao bì Beechnut cũng thuê Bernays vì họ gặp vấn đề khi bán một trong những sản phẩm của họ - thịt xông khói. Vâng, đúng vậy: có một thời gian ở Mỹ khi thịt xông khói không phổ biến. Để mọi người ăn thêm thịt xông khói, Bernays đã khảo sát các bác sĩ và hỏi họ điều gì sẽ tốt hơn: một bữa sáng nhẹ hoặc bữa sáng thịnh soạn. Họ đã áp đảo trả lời rằng bữa sáng thịnh soạn là tốt hơn, vì vậy Bernays đã tạo ra một chiến dịch tiếp thị mà các bác sĩ nên giới thiệu một bữa sáng gồm thịt xông khói, trứng và bánh mì nướng; cuối cùng là sinh ra bữa sáng kiểu Mỹ.

Đó chỉ là hai cách rất riêng biệt mà Bernays đã làm thay đổi thế giới, nhưng việc áp dụng phân tâm học vào quan hệ công chúng đã ảnh hưởng đến tất cả quảng cáo và tuyên truyền hiện nay.

20.Maurice Hilleman:

Bạn biết những gì tuyệt vời về thời hiện đại? Theo 1tach.com, tuyệt vời nhất chính là bạn sẽ không chết trong thời thơ ấu vì bệnh tật, hoặc mất một đứa con, anh chị em ruột, người thân, hoặc một người bạn do một cái gì đó như bệnh sởi hoặc rubella. Người đàn ông khiến hàng chục triệu người phải cảm ơn đó chính là nhà vi sinh học người Mỹ Maurice Hilleman.

Hilleman sinh ra ở Montana năm 1919 và lấy bằng tiến sĩ về vi sinh vật học của Đại học Chicago vào năm 1944. Sau khi tốt nghiệp, ông đã làm nghiên cứu tại ER Squibb & Sons, nơi ông đã phát triển loại vắc xin đầu tiên của mình - vi rút viêm não Nhật Bản.

Sau đó, Hilleman tiếp tục làm việc tại công ty Merck & Co, nơi ông đã phát triển hoặc cải tiến khoảng  40 loại vắc xin khác nhau. Điều này bao gồm tiêm chủng cho bệnh thủy đậu, viêm gan A, viêm gan B, sởi, viêm màng não và quai bị. Trong số 14 loại vắc xin được đề nghị cho trẻ em ngày nay, 9 trong số đó đã được phát triển bởi Hilleman. Theo tờ New York Times, ông đã cứu được nhiều mạng sống hơn bất kỳ nhà khoa học nào khác trong thế kỷ 20. Nhưng ông chưa bao giờ được trao giải Nobel, mặc dù ông xứng đáng giành được giải thưởng cao quý này.

Thay vào đó, một điều khá bất thường xảy ra vào năm 1998, vào cuối cuộc đời của Hilleman. Một tạp chí y khoa đáng kính, The Lancet, đã công bố một bài báo của Tiến sĩ Andrew Wakefield, người đã nói rằng sự gia tăng tỷ lệ mắc chứng tự kỷ là do MMR của Hilleman, một loại vắc xin phòng viêm màng não, quai bị, và rubella kết hợp sáu mũi tiêm chỉ trong hai lần. Vì vậy thay vì nhận giải Nobel vì đã cứu được hàng chục triệu mạng sống, ông bị ghét vì làm tăng tỷ lệ tự kỷ.

Trong những năm kể từ khi bài báo được xuất bản, nó đã bị mất uy tín rộng rãi vì không có bằng chứng rõ ràng về mối liên hệ giữa tiêm chủng và chứng tự kỷ. Tạp chí Lancet đã rút lại bài viết này và trong năm 2010 Wakefield đã bị tước giấy phép y tế của mình. Tuy nhiên, thiệt hại mà bài viết này đã gây ra cho Maurice Hilleman là điều không bao giờ có thể bù đắp được.

Theo 1tach.com

BÀI ĐANG HOT

20 người làm thay đổi thế giới mà bạn chưa từng nghe nói đến

12/12/2017

5 kiểu chết phổ biến trong phim ảnh hóa ra lại sai về mặt khoa học

29/04/2017

10 sự thật đầy sửng sốt về cuộc nội chiến Hoa Kỳ (Cảnh báo: có thể khiến bạn phải bật cười)

26/05/2017

100 ý tưởng khởi nghiệp kinh doanh nhỏ ít vốn cho người mới bắt đầu

06/12/2016

25 phát minh quan trọng nhất trong lịch sử loài người

15/03/2017

4 lý do bạn không nên cắt viên vitamin E để bôi mặt – Làm đẹp với vitamin E như thế nào cho đúng cách?

09/03/2017

20 Ý tưởng mở quán cà phê cho người khởi nghiệp kinh doanh nhỏ

06/12/2016

11 công việc có mức thu nhập cao dành cho phụ nữ

16/05/2017

Top 10 game chiến thuật cực hay cho PC có cấu hình “dễ chịu”

25/10/2016

Những vấn đề có thể bạn chưa biết về tâm lý tội phạm

09/05/2017

Khởi nghiệp là gì, cần những yếu tố nào và làm sao để khởi nghiệp thành công?

11/06/2017

10 cuốn sách cực hay về tâm lý học - Bạn đã đọc bao nhiêu cuốn trong số này rồi?

17/05/2017

Trần Khánh Dư – Vị tướng lắm tài nhiều tật trong sử Việt

16/12/2016

[Truyện cười] Tuyển tập những truyện cười bựa nhất về con Thỏ ngáo đá

11/12/2016

Vì sao chúng ta không bao giờ thấy chó sói biểu diễn trong rạp xiếc

11/03/2017

Những mẩu truyện tranh hài hước về chú rồng Pikagon (Pikalong)

11/03/2017

Cảnh báo: Tác hại từ việc trị mụn bằng kem đánh răng!

10/12/2016

Du lịch phượt Quảng Ngãi với 14 điểm đến và 21 đặc sản nổi nổi tiếng

31/08/2017

20 thủ thuật tâm lý những người bán hàng sử dụng để khống chế hành vi mua sắm của bạn

29/12/2016

15 anime với nội dung quái đản nhất khiến bạn phải thốt lên “Quát đờ phắc!” khi đang xem

24/10/2016

Vitamin E là gì? Cảnh báo những nguy hại do lạm dụng uống hoặc bôi vitamin E 400 IU.

10/12/2016

Ấu dâm là gì? Tâm lý học của kẻ ấu dâm? Các dấu hiệu nhận biết và làm cách nào để giúp trẻ em phòng tránh?

26/03/2017

10 cặp vếu trong anime "phá nát" mọi định luật vật lý

30/12/2016

1tach.com tuyển cộng tác viên viết bài

27/04/2017

Làm sếp cần biết: 7 kỹ thuật đơn giản để khích lệ nhân viên của bạn

24/04/2017

10 mẫu xe độ Super Cub đẹp đến ngỡ ngàng!

30/12/2016

Ở đời có 4 cái ngu – Vì sao ngu? Ngu như thế nào?

02/12/2016

Những mẩu truyện tranh hài hước về chú thỏ 7 màu

28/03/2017

Chiêm ngưỡng 10 mẫu chữ viết tay đẹp đến sững sờ

03/04/2017

Số ngẫu nhiên do máy tính tạo ra có thực sự ngẫu nhiên?

20/04/2017

© Copyright 2016. Bản quyền website thuộc về 1tach.com